01/07/2021
EH202107-02

Quy định về trách nhiệm tái chế, xử lý sản phẩm, bao bì thải bỏ của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu (EPR- trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất) trong dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật bảo vệ môi trường 2020

EH202107-02

Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã quy định các cơ chế bảo đảm việc thực hiện trách nhiệm tái chế, xử lý sản phẩm, bao bì thải bỏ của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu này một cách bắt buộc. Dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật Bảo vệ môi trường đã quy định đầy đủ cơ chế để bảo đảm việc thực hiện trách nhiệm tái chế, xử lý của nhà sản xuất được hiệu quả, tạo ra lợi ích to lớn cho cả doanh nghiệp, xã hội, môi trường. Cơ chế trong dự thảo Nghị định có một số điểm đáng chú ý sau:

1. Trách nhiệm tái chế, xử lý sản phẩm, bao bì thải bỏ của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu

Extended Producer Responsibility - EPR là cơ chế mà ở đó trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm của mình được mở rộng đến giai đoạn sau sử dụng nhằm thu gom được ở giai đoạn cuối của vòng đời sản phẩm để có thể phân loại trước khi xử lý mà chủ yếu là tái chế

Tại Điều 54 và Điều 55 của Luật bảo vệ môi trường 2020 và quy định tại Chương VII của dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật bảo vệ môi trường quy định về trách nhiệm tái chế, xử lý sản phẩm, bao bì thải bỏ của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu chính là quy định nhằm áp dụng cơ chế “trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất- extended producer responsibility - EPR”, một cơ chế để thu hồi sản phẩm, bao bì sau sử dụng để tái chế, xử lý một cách hiệu quả nhất, đạt được mục tiêu kép là bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế.

Luật bảo vệ môi trường 2020 và dự thảo Nghị định với việc quy định tại Điều 54 Luật bảo vệ môi trường: Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì có giá trị tái chế phải thực hiện tái chế theo tỷ lệ và quy cách tái chế bắt buộc và Điều 55: Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì chứa chất độc hại, khó có khả năng tái chế hoặc gây khó khăn cho thu gom, xử lý phải đóng góp tài chính để hỗ trợ các hoạt động xử lý chất thải rắn sinh hoạt.

Như vậy:

- Nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì có giá trị tái chế thì phải có trách nhiệm thu gom để tái chế các sản phẩm, bao bì đó (sau sử dụng) theo tỷ lệ tái chế bắt buộc và quy cách tái chế bắt buộc (ví dụ: máy tính xách tay là sản phẩm có giá trị tái chế, theo quy định phải được thu gom để tái chế với tỷ lệ tái chế là 20%; theo quy cách X. Nhà sản xuất A đưa 1.000.000 kg máy tính xách tay để bán trên thị trường Việt Nam trong 1 năm với thương hiệu A thì, nhà sản xuất A phải thu hồi để xử lý là 200.000 kg máy tính xách tay sau sử dụng (bị thải bỏ). Lượng máy tính xách tay này phải được tái chế và xử lý theo quy cách X)

- Nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì khó có khả năng tái chế thì phải đóng tiền vào Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ các hoạt động xử lý chất thải rắn sinh hoạt (ví dụ: đầu mẩu thuốc lá là phần còn lại sau sử dụng của thuốc lá điếu, khó thu gom, xử lý; theo quy định nhà sản xuất, nhập khẩu phải đóng khoản tiền là 100 đồng cho mỗi 20 điếu. Nếu nhà sản xuất B đưa 20.000.000 điếu thuốc lá với thương hiệu B để bán ở Việt Nam trong 1 năm thì nhà sản xuất B phải đóng vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam số tiền là 100.000.000 đồng)

2. Đối tượng các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu phải thực hiện trách nhiệm tái chế, xử lý sản phẩm, bao bì sau sử dụng

2.1. Cách xác định nhà nhập khẩu, nhà sản xuất trong dự thảo Nghị định

Nhà sản xuất trong dự thảo Nghị định được quy định:

- Là tổ chức, cá nhân sở hữu nhãn hiệu hàng hóa, được in trên sản phẩm, nhãn sản phẩm, bao bì sản phẩm ví dụ: Công ty Cocacola Việt Nam đối với các sản phẩm mang nhãn hiệu cocacola hoặc các nhãn hiệu thuộc sở hữu của công ty này ở Việt Nam.

- Là các chuỗi siêu thị sử dụng bao bì để đóng gói các sản phẩm được bán trong siêu thị của mình.

- Là các sàn thương mại điện tử (có trụ sở ở Việt Nam) mà ở đó các cơ sở kinh doanh thông qua sàn thương mại điện tử sử dụng bao bì để đóng gói các sản phẩm niêm yết trên sàn thương mại điện tử để chuyển cho khách hàng.

Nhà nhập khẩu trong dự thảo Nghị định là nhà nhập khẩu sở hữu lô hàng nhập khẩu tại tời điểm thông quan vào Việt Nam.

2.2. Nhà sản xuất, nhà nhập khẩu được quy định trong dự thảo Nghị định

Dự thảo Quy định đã quy định hai loại đối tượng có trách nhiệm mở rộng gồm:

(1) Nhà sản xuất, nhập khẩu thực hiện trách nhiệm tái chế là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì quy định tại Phụ lục 52 ban hành kèm theo Nghị định để bán trên thị trường Việt Nam. Trong đó: Các sản phẩm quy định tại Phụ lục 52 là một số sản phẩm thuộc các ngành hàng (1) điện, điện tử; (2) pin- ắc quy; (3) dầu nhớt; (4) săm lốp; (5) phương tiện giao thông và máy móc công trình; (6) bao bì các loại.

(2) Nhà sản xuất, nhà nhập khẩu phải đóng góp tài chính vào Quỹ bảo vệ môi trường để hỗ trợ các hoạt động xử lý chất thải là nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì quy định tại Phụ lục 58 ban hành kèm theo Nghị định để bán trên thị trường Việt Nam. Trong đó: Các sản phẩm quy định tại Phụ lục 58 gồm một số sản phẩm thuộc ngành hàng: (1) bao bì chứa thuốc bảo vệ thực vật, diệt côn trùng, hóa chất khử trùng, hóa chất tẩy các loại; (2) tã lót, bỉm, băng vệ sinh, khăn ướt dùng một lần; (3) kẹo cao su; (4) thuốc lá; (5) sản phẩm, bao bì sử dụng nhựa như một thành phần nguyên liệu.

Đối tượng phải đóng góp tài chính để hỗ trợ các hoạt động xử lý phải đóng tiền vào Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam theo định mức do Nghị định ấn định và lượng sản phẩm hàng hóa bán ra thị trường. Số tiền này được Quỹ Bảo vệ Môi trường sử dụng để hỗ trợ các hoạt động (a) Thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình, cá nhân; (b) Nghiên cứu, phát triển công nghệ, kỹ thuật, sáng kiến xử lý chất thải rắn sinh hoạt; (c) Thu gom, vận chuyển, xử lý bao bì chứa thuốc bảo vệ thực vật.

3. Dự thảo Nghị định quy định về cơ chế EPR

3.1. Cơ chế chung của EPR và một số đặc thù

Để thực hiện được trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất nêu trên, thì mô hình chung, cơ chế chung để thực hiện như sau:

 

                                    Hình 1. Mô hình chung của cơ chế EPR

Trong cơ chế này, Tổ chức thực hiện trách nhiệm của nhà sản xuất (PRO: Producer Responsibility Organisation) là trung tâm của hệ thống. Tổ chức này thay mặt nhà sản xuất để tổ chức việc thu gom, tái chế sản phẩm, bao bì của nhà sản xuất, nhập khẩu và thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến trách nhiệm tái chế như đăng ký, báo cáo kết quả tái chế, thực hiện việc truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng về phân loại rác tại nguồn … Tùy vào thực tiễn của các nước mà các PRO được tổ chức thành các loại khác nhau:

- Hàn Quốc thì PRO của ngành bao bì là KPRC do các nhà sản xuất nước đóng chai, mặt hàng đóng gói, bao bì lập ra theo quy định của Luật đóng gói. KPRC có chức năng tài chính, cân đối tài chính để thu tiền của các nhà sản xuất các mặt hàng đóng gói (nước uống đóng chai, vỏ hộp, bao bì), họ lập ra KORA (theo quy định của Luật đóng gói) để thực hiện các hoạt động mang tính chuyên môn, kỹ thuật để tổ chức tái chế như lựa chọn nhà tái chế. Như vậy, do đặc thù của ngành bao bì có rất nhiều thành viên và sản phẩm có số lượng lớn, đa dạng nên họ tách PRO thành hai tổ chức riêng biệt trong đó KPRC thu tiền từ nhà sản xuất và trả tiền cho KORA để KORA đứng ra tổ chức việc tái chế theo quy định.

Các ngành hàng khác như pin, ắc quy, săm lốp, đồ điện tử thì PRO vừa có chức năng tài chính vừa có chức năng về chuyên môn, kỹ thuật trong việc tổ chức tái chế do các mặt hàng này có số lượng và chủng loại không lớn và đa dạng như mặt hàng đóng gói, bao bì.

- Ở Đài Loan thì PRO chính là Quỹ tái chế do Nhà nước lập ra, là PRO chung cho tất cả các ngành hàng có sản phẩm phải thu hồi để tái chế.

3.2. Cơ chế EPR ở Việt Nam phù hợp với đặc thù tái chế ở Việt Nam

Do đặc thù ở nước ta là thị trường tái chế chưa phát triển, trong đó:

- Hoạt động phân loại rác tại nguồn chưa được thực hiện: mặc dù luât bảo vệ môi trường 1993 đã quy định việc phân loại rác tại nguồn nhưng đến nay vẫn chỉ dừng lại ở các dự án thí điểm; gần đây nhất có một số địa phương thực hiện nhưng không hiệu quả và chưa đồng bộ.

- Hệ thống thu gom phế liệu hiện nay do đồng nát đảm nhiệm. Đồng nát cũng là lực lượng phân loại rác chủ yếu ở nước ta, họ phân loại trên cơ sở thu mua phế liệu từ rác thải sinh hoạt ở các hộ gia đình, thu nhặt phế liệu ở trên đường phố (nơi hộ gia đình, cá nhân vứt rác, điểm tập kết rác thải), thu nhặt phế liệu tại các bãi chôn lấp chất thải. Hệ thống URENCO cũng thu gom phân loại nhưng là do các công nhân làm và cuối cùng cũng được chuyển sang hệ thống đồng nát để đem đi tái chế. Những người đồng nát đem bán phế liệu cho các điểm thu mua tập trung, các điểm này tiếp tục phân loại và bán cho các điểm thu mua chuyên biệt đối với từng loại phế liệu, họ sẽ trực tiếp đem bán cho các đơn vị tái chế hoặc xuất khẩu.

- Đơn vị tái chế chủ yếu ở các làng nghề, có quy mô nhỏ, thiết bị tái chế lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, ở nước ta cũng đã xuất hiện các nhà máy tái chế, xử lý quy mô lớn và chuyên nghiệp.

- Mặc dù EPR đã được áp dụng ở nước ta từ 2005 nhưng thực tiễn chưa được triển khai một cách đầy đủ, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu đã thiết lập các điểm thu gom, nhưng là để thực hiện quy định (các điểm thu gom ô tô, xe máy, ti vi chưa thu gom được đơn vị sản phẩm nào) cho thấy cơ chế EPR này chưa được hình thành đầy đủ, chưa có các PRO chuyên nghiệp để thúc đẩy cơ chế này. Tuy nhiên, trong vài năm qua, đã xuất hiện các hình thức trung gian giúp nhà sản xuất tổ chức thực hiện việc tái chế các sản phẩm, bao bì sau sử dụng như Việt Nam Tái Chế (tổ chức tái chế cho HP và APPLE).

- Một số nhà sản xuất lớn đã tự đứng ra tổ chức thu gom, tái chế các sản phẩm, bao bì sau sử dụng của mình như Unilever, TH ….

Chính vì vậy, nhà làm luật đã thiết kế hệ thống EPR ở Việt Nam theo hình thức hỗn hợp, kết hợp mô hình Hàn Quốc và Đài Loan, để bảo đảm phù hợp với đặc điểm nêu trên ở Việt Nam. Theo đó, nhà sản xuất được lựa chọn hình thức tái chế thông qua PRO (như ở Hàn Quốc) hoặc thông qua việc đóng tiền vào Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (như ở Đài Loan) đồng thời cũng cho phép nhà sản xuất tự tái chế hoặc thuê tổ chức tái chế, cụ thể như sau:

Nhà sản xuất, nhà nhập khẩu được lựa chọn 02 hình thức để thực hiện trách nhiệm tái chế của mình (1) Tổ chức tái chế (ở hình thức này nhà sản xuất có 3 lựa chọn bao gồm (a) tự tổ chức tái chế, (b) thuê đơn vị tái chế có đủ điều kiện, (c) ủy quyền cho bên thứ ba tổ chức tái chế; hoặc (2) nếu không lựa chọn hình thức thứ nhất thì có thể lựa chọn hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam để thực hiện trách nhiệm tái chế.Phương pháp xác định tỷ lệ tái chế và số tiền đóng góp tài chính vào Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam được dự thảo Nghị định xác định theo công thức khoa học và phù hợp với thực tiễn tái chế ở nước ta.

Để quản lý, vận hành hệ thống EPR, dự thảo Nghị định đã thành lập Hội đồng EPR Quốc gia với các thành viên là các nhà quản lý, các nhà bảo vệ môi trường và đại diện cho từng nhóm nhà sản xuất, nhà nhập khẩu có trách nhiệm tái chế, Hội đồng EPR Quốc gia quyết định tỷ lệ tái chế bắt buộc và định mức chi phí tái chế đối với mỗi đơn vị sản phẩm, hàng hóa sau sử dụng để làm căn cứ đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố tỷ lệ tái chế bắt buộc và định mức chi phí tái chế theo đề nghị của Hội đồng EPR Quốc gia.

Thường trực của Hội đồng tái chế quốc gia và cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý, vận hành hệ thống EPR có Văn phòng EPR Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức. Văn phòng EPR Việt Nam đồng thời là cơ quan của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu để thực hiện các hoạt động hỗ trợ thực hiện trách nhiệm tái chế.

Mô hình, cơ chế vận hành EPR trong dự thảo Nghị định như sau:

 

Hình 2. Mô hình EPR trong dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật Bảo vệ môi trường 2020

4. Lợi ích và mục tiêu của EPR

4.1. Mục tiêu

Với việc quy định nhà sản xuất, nhà nhập khẩu phải chịu trách nhiệm tái chế, xử lý sản phẩm, bao bì sau sử dụng, nghĩa là nhà sản xuất, nhà nhập khẩu phải bỏ tiền ra để thu mua sản phẩm, bao bì sau sử dụng và bỏ tiền ra để tái chế, xử lý chúng. Vì vậy mà họ sẽ tìm cách (hợp pháp) để giảm chi phí này đi. Khi họ giảm được chi phí này một cách hợp pháp thì mục tiêu của EPR đạt được.

Vậy mục tiêu của EPR là tác động làm thay đổi thói quen của nhà sản xuất, nhà nhâp trong sử dụng nguyên liệu và thiết kế sản phẩm để có thể giảm dần và tối ưu hóa chi phí thu gom cũng như tái chế sản phẩm, bao bì sau sử dụng. Như vậy, nhà sản xuất phải sản xuất hàng hóa, bao bì và sử dụng bao bì sao cho giảm thiểu việc tạo ra chất thải, bảo đảm việc dễ dàng trong thu gom và xử lý hoặc thay thế nguyên liệu sản xuất để sản phẩm của họ không còn thuộc diện phải thu gom, tái chế hoặc xử lý theo quy định tại Điều 54 và 55 Luật Bảo vệ môi trường. Đây là hoạt động quan trọng nhất để thực hiện các quy định về EPR.

Bên cạnh mục tiêu to lớn đó, thì EPR chính là công cụ tài chính nhằm tác động đến hành vi sản xuất như nêu ở trên, thì EPR còn tạo ra một lượng tài chính ổn định và đầy đủ để thực hiện việc tái chế sản phẩm, bao bì nhằm nâng cao dần tỷ lệ tái chế để thực hiện được mục tiêu tái chế quốc gia đặt ra trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch xử lý chất thải rắn ở nước ta.

Mục tiêu sau cùng và quan trọng nhất của EPR là đem lại lợi ích về bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế, giải quyết được các vấn đề xã hội

4.2. Lợi ích

a) Đối với nhà sản xuất, nhà nhập khẩu: họ sẽ được 3 cái lợi liên quan đến thương hiệu, nguyên liệu và hiệu quả sản xuất sản phẩm:

- Khi thực hiện EPR, nhà sản xuất sẽ nâng cao được hình ảnh thương hiệu của mình thông qua việc thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng, xã hội. Họ sẽ thực hiện nghiêm túc không chỉ các quy định của pháp luật Việt Nam mà thực hiện một cách thiện chí các cam kết quốc tế về nâng cao biểu hiện môi trường cũng như nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong các hiệp định FTA thế hệ mới như CPTPP và EVFTA. Khi thương hiệu của họ chiếm được tình cảm của người tiêu dùng thì đó là lợi ích không thể nào đo đếm được.

- Khi thực hiện EPR, nhà sản xuất sẽ tạo ra thị trường vật liệu, nguyên liệu dồi dào, đáp ứng nhu cầu về nguyên vật liệu trong sản xuất mà nguyên vật liệu tái chế có giá cả thấp hơn nhiều so với nguyên vật liệu nguyên sinh mà chất lượng tương đương (trừ một số loại nhựa đặc thù) do đó, sẽ cắt giảm được chi phí sản xuất.

- Khi thực hiện EPR, nhà sản xuất sẽ buộc phải thay đổi thiết kế, nguyên liệu, công nghệ sản xuất để sản xuất ra sản phẩm, bao bì dễ thu gom, tái chế, giảm thiểu chi phí thu gom, tái chế do vậy, sản phẩm làm ra thân thiện với môi trường, đáp ứng được thị hiếu và xu hướng đòi hỏi của người tiêu dùng, từ đó sản phẩm có sức hấp dẫn hơn, có khả năng cạnh tranh tốt hơn.

b) Lợi ích về môi trường: EPR giúp tăng tỷ lệ tái chế, từ đó các vật liệu gây hại cho môi trường trong quá trình tiêu dùng được quay vòng trong chu trình sản xuất, tiêu dùng, thu gom, tái chế hoặc chuyển đổi các vật liệu này sang các dạng khác có vòng đời dài hơn; do đó sẽ giảm thiểu sự tồn tại của các vật liệu này trong môi trường sống, giảm được tác động tiêu cực của các vật liệu này lên môi trường, các loài động thực vật và hệ sinh thái….

c) Lợi ích về kinh tế: EPR là yếu tố quan trọng hàng đầu trong mô hình kinh tế tuần hoàn, một mô hình kinh tế bảo đảm sự phát triển bền vững và tối ưu được các lợi thế cũng như sự tác động, hỗ trợ qua lại lẫn nhau của các yếu tố trong nền kinh tế. Thông qua việc xây dựng cơ chế tham gia cho các doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị của các sản phẩm, bao bì thuộc diện phải thu hồi, tái chế mà các lợi ích của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà tái chế được tối ưu hóa. Cải thiện kinh doanh và thu hút đầu tư để phát triển hơn nữa lĩnh vực tái chế và xử lý chất thải. Góp phần tạo ra việc làm và việc làm chất lượng cao trên bình diện thu nhập, trình độ và điều kiện làm việc. Giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu thô và nâng cao sức cạnh tranh của nguyên liệu thứ cấp. Hỗ trợ du lịch thông qua môi trường trong sạch hơn.

d) Lợi ích về xã hội: Góp phần cung cấp thông tin và nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng về cách phân loại, xử lý chất thải tại nhà. Mang lại cho các gia đình một môi trường có lợi cho sức khỏe. Nâng cao năng lực sản xuất, BVMT của đội ngũ thu gom, tái chế phi chính thức (hệ thống đồng nát, làng nghề). Tăng cường tương tác giữa những các bên cung cấp nguyên liệu, thiết kế và sản xuất bao bì, kinh doanh hàng tiêu dùng, bán lẻ và xử lý chất thải. Góp phần giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp khi tạo ra các công việc mới.

Thực tiễn áp dụng ở Hàn Quốc và Đài Loan cho thấy cơ chế EPR đã phát huy được hiệu quả tích cực trong quản lý chất thải rắn. Tại Hàn Quốc khối lượng tái chế tăng 75% trong hơn 10 năm (năm 2003: 1.047.000 tấn lên 1.837.000 tấn năm 2017), trong đó năm 2017: 92% chất thải nhựa được tái chế (năm 2003: 172.000 tấn lên 883.000 tấn năm 2017). Ở Đài Loan, thì lượng rác thải tính trên đầu người có xu hướng giảm dần (giảm từ 1,15 kg/người năm 1998 xuống 0,87 kg/người năm 2014), nhưng tỷ lệ tái chế lại có xu hướng tăng (tăng từ 3% năm 1998 lên 45% năm 2015)

 

                   Hình 3. Mối tương quan giữa lượng rác thải bỏ và lượng rác tái chế tại Đài Loan

5. Áp dụng và thực hiện EPR đối với nhà sản xuất, nhà nhập khẩu

Như đã nêu trên, EPR là công cụ đa tác động, một mặt làm thay đổi thói quen sản xuất sản phẩm, bao bì để giảm chi phí thu gom, tái chế, xử lý mặt khác là công cụ tài chính hiệu quả để đẩy mạnh việc thu gom, tái chế, hạn chế tối đa sự thất thoát sản phẩm, hàng hóa ra môi trường, góp phần quan trọng trong bảo vệ môi trường.

Do vậy, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu cần hiểu rõ chính sách EPR để tự điều chỉnh quá trình sản xuất như thiết kế lại sản phẩm, thay đổi nguyên vật liệu sản xuất theo hướng có thân thiện với môi trường, giảm bớt việc sử dụng bao bì khi đưa sản phẩm ra thị trường ….

Dự thảo Nghị định đưa ra lộ trình cho việc thực hiện trách nhiệm tái chế, xử lý của nhà sản xuất, nhập khẩu với mức độ yêu cầu tái chế sẽ tăng dần để đảm bảo doanh nghiệp có khả năng thích nghi dần. Để thực hiện EPR, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu có trách nhiệm báo cáo thông tin dự kiến về số lượng, khối lượng, chủng loại của từng sản phẩm, bao bì do mình sản xuất, nhập khẩu vào năm sau để có cơ sở thực hiện trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu. Sau khi thực hiện EPR, doanh nghiệp báo cáo có kiểm toán số liệu thực tế để xác định việc hoàn thành nghĩa vụ của mình. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, các doanh nghiệp thường uỷ quyền cho một Tổ chức thực hiện Trách nhiệm của Nhà sản xuất (Producer Responsibility Organization – PRO) để tối ưu hoá chi phí cho việc vận hành và báo cáo của mình. Ở Việt Nam, Liên minh Tái chế bao bì (PRO Việt Nam) hay Việt Nam Tái Chế là một ví dụ về tổ chức này đã được thành lập để đón đầu và hỗ trợ các thành viên trong liên minh thực hiện nghĩa vụ EPR khi quy định có hiệu lực pháp luật.

Nghĩa vụ quan trọng nhất mà nhà sản xuất, nhà nhập khẩu là đạt được tỷ lệ tái chế bắt buộc và phải tái chế theo đúng quy cách. Do vậy, nhà sản xuất cần tìm ra các biện pháp để đáp ứng quy định này. Như đề cập ở trên, việc ủy quyền cho bên thứ 3 thực hiện là đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, nếu tự tổ chức tái chế hoặc thuê đơn vị tái chế thì phải lựa chọn kỹ các đơn vị tái chế đủ điều kiện và đủ năng lực để thực hiện, đặc biệt là phải có được mạng lưới thu gom sản phẩm, bao bì sau sử dụng hiệu quả nhất hoặc thông qua hệ thống đồng nát hoặc thiết lập các điểm tiếp nhận sản phẩm, bao bì sau sử dụng ….

Nhà sản xuất, nhà nhập khẩu cũng cần tham gia tích cực vào quá trình xác định tỷ lệ tái chế, định mức chi phí tái chế thông qua việc cử đại diện của mình vào Hội đồng EPR Quốc gia. Tỷ lệ tái chế và định mức chi phí tái chế được công bố định kỳ 3 năm một lần. Đây chính là quyền lợi sát sườn của doanh nghiệp một mặt nó bảo đảm sự đồng thuận trong xác định tỉ lệ tái chế và định mức chi phí tái chế mặt khác nó bảo đảm sự khả thi trong thực hiện bởi chính nhà sản xuất, nhà nhập khẩu là người trực tiếp thi hành quy định này.

Việc xây dựng dự thảo các quy định về EPR đã được Vụ Pháp chế, Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện từ rất sớm với sự tham gia tích cực của các nhà sản xuất, nhập khẩu và nhà tái chế cùng có sự đồng hành của các tổ chức, chuyên gia trong nước và quốc tế. Do vậy, dự thảo Nghị định đã đạt được sự đồng thuận tương đối cao từ phía nhà sản xuất, nhà nhập khẩu. Mặc dù đã xuất hiện ở Việt Nam từ lâu, nhưng những quy định tại dự thảo Nghị định này là tương đối mới, và mặc dù các ngành hàng đều thể hiện sự sẵn sàng thực hiện EPR nhưng để triển khai được trên thực tế thì còn phải thiết lập hệ thống vận hành, các ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hệ thống; nâng cao nhận thức để các doanh nghiệp thực hiện đồng bộ; thúc đẩy thực hiện hiệu quả chính sách thu phí xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo khối lượng; thúc đẩy sự hình thành công nghiệp tái chế hiện đại và chuyên nghiệp… do vậy, các quy định này cần được các doanh nghiệp nghiêm túc chấp hành; các cấp chính quyền quyết tâm trong triển khai đồng bộ các giải pháp về phân loại và thu gom tái chế- xử lý; đặc biệt là cần sự ủng hộ của nhân dân trong triển khai việc phân loại rác tại nguồn và nâng cao nhận thức cộng đồng về trách nhiệm mở rộng trách nhiệm của nhà sản xuất.

Chia sẻ
Quan tâm

Bình luận :

×

Đăng nhập

Quên mật khẩu?
Bạn chưa có tài khoản?? Đăng ký
Đăng ký hội viên miễn phí